Đàn Guitar - còn được biết đến dưới cái
tên Tây Ban cầm (西班琴), vốn xuất xứ là một nhạc cụ có cách đây hơn 5000 năm (loại Guitar cổ), sau này
người Tây Ban Nha mới cải tiến nó thành đàn Guitar ngày
nay. Đàn Guitar ngày nay có 6 dây, tuy nhiên vẫn tồn tại những loại đàn Guitar
có 4, 7, 8, 10 và 12 dây.
Nó là một loại nhạc cụ có phím và dây, có ứng dụng rộng rãi
trong các loại nhạc, có thể đệm cho hát, hòa tấu hoặc chơi độc tấu.
Cấu tạo
Bộ phận quan trọng nhất của đàn là dây đàn và thùng đàn. Thùng có tác dụng cộng hưởng và khuếch đại âm thanh. Khi ta gảy dây đàn tức là làm cho dây đàn rung động, thùng đàn sẽ cộng hưởng với tần số rung động của dây đàn, làm cho lớp không khí xung quanh mặt thùng đàn dao động với cùng tần số và tai ta nghe được âm thanh. Tùy theo tần số dao động của dây đàn mà tai ta nghe được các âm thanh trầm bổng khác nhau.
Những phần cơ bản của ghi ta điện và cổ điển
|
Phân loại
Theo dòng phát triển của thời gian, cùng với những biến đổi tất
yếu của xã hội, tư tưởng, ý thức của con người mà cây đàn ghita cũng có những
cải biến đáng kể.
Xét theo dòng nhạc, Guitar được phân chia thành 2 dòng chính
thống: ghita cổ điển và ghita nhạc nhẹ. Ghita cổ điển thường là đàn gỗ, có 6
dây, đôi khi được thiết kế thành 12 dây. Trong nhạc nhẹ, có nhiều thể loại
phong phú hơn nên người ta cũng đồng thời chia ghita thành các dòng như ghita
flamenco, jazz hay rock.
Xét về cấu tạo, đàn Guitar được chia thành Guitar điện, Guitar
Hawaii, Guitar phím lõm, Guitar đệm (bass), Guitar hai cần, Guitar 4 dây, 7
dây, 12 dây. Nhưng thông thường Guitar được chia làm 2 nhóm lớn: Guitar thùng
(acoustic guitar) và Guitar điện (electric guitar).
Guitar thùng (acoustic guitar)
Guitar thùng đã thâm nhập vào rất nhiều thể loại âm nhạc khác
nhau. Bên cạnh vai trò là những nhà solo tuyệt vời, acoustic cũng đã hòa nhập
rất hài hòa với các dụng cụ âm nhạc khác.
Guitar thùng về cơ bản là nhạc cụ không dùng điện, khối lượng
nhẹ, thường được làm chủ yếu từ gỗ, dễ mang theo khi di chuyển. Dây đàn được
làm chủ yếu từ dây sắt hoặc dây nilon. Trái với Guitar điện, cây đàn Guitar
thùng không sử dụng một thiết bị tăng âm nào gắn vào cây đàn, trái lại nó sử
dụng một miếng gỗ tăng âm gắn vào phía trước thân đàn. Vì vậy, so với các nhạc
cụ khác trong một dàn nhạc giao hưởng, âm thanh của cây Guitar
thùng thường nhỏ hơn và vi vậy khi Guitar được chơi chung trong các dàn nhạc,
nó thường được gắn thêm các bộ phận cảm ứng từ dùng để khuếch đại âm thanh (gọi
là pick-up). Các Guitar thùng hiện nay sử dụng rất nhiều loại pick-up khác nhau
để các nhạc công có thể dễ dàng điều chỉnh âm lượng của Guitar.
Đàn Guitar thùng có khả năng trình diễn ở nhiều thể loại nhạc
khác nhau từ nhạc cổ điển, nhạc đồng quê, nhạc jazz cho đến flamenco với tính
biểu cảm tuyệt vời.
Guitar thùng thường có:
·
phím đàn hẹp hơn ghita
cổ điển
·
thùng đàn hơi mỏng hơn
cổ điển, phía trên thường có một miếng hình khuyết để trang trí và tránh làm
xướt thùng đàn khi đánh miếng gảy
·
Một số cây, ở mặt bên
trên của thùng đàn còn có chỗ để móc dây thiết kế sẵn để móc dây đeo vào đứng
đánh
Ta có thể chia Guitar thùng ra thành nhiều nhóm lớn: Guitar cổ
điển và Guitar flamenco; Guitar dây thép với phần đầu phẳng (còn gọi là Guitar
dân gian - folk guitar); Guitar 12 dây; Guitar đầu vòm. Guitar
thùng còn bao hàm một số loại Guitar không gắn các bộ phận tăng âm và dùng
trong một số trường hợp như loại Guitar thùng để đánh đệm trong các ban nhạc,
chúng có cùng tông với loại Guitar điện cùng dùng để đánh đệm.
Một số biến thể của Guitar thùng:
·
Phiên bản đầu tiên của
Guitar thùng là cây đàn ghita cổ điển (classical guitar)
·
Đàn dây kim loại: được
tạo vào khoảng thế kỉ 19. So với dây đàn của Guitar cổ điển, điểm khác biệt lớn
nhất là nó được căng dây kim loại và đôi khi thùng đàn to hơn. Cùng với Guitar
điện (electric guitar), nó đã trở thành một nhạc cụ cốt lõi trong nhạc
pop.
·
Ghita cộng hưởng (resonator
guitar): có thân đàn thường được làm từ kim loại. Cách làm này giúp
nâng cao âm thanh để chơi trong dàn nhạc giao hưởng và thính phòng. Nó ra đời ở
vùng trung tâm phía Bắc Mĩ vào khoảng thập niên 1920 và thập niên 1930.
·
Đàn 12 dây: có số dây
đàn là 12, gấp đôi một cây đàn bình thường. Cứ mỗi cặp 2 dây sẽ thể hiện một
cao độ. Với cây đàn này một nghệ sĩ có thể thể hiện như 2 người đang cùng chơi.
Do tính chất 2 dây/1 cao độ, tính cộng hưởng là rất cao nên có ảnh hưởng rất rõ
ràng và tích cực tới người nghe.
·
Guitar Torres: được
coi là bậc tiền bối trong dòng ghita thùng hiện đại. Nó có thân đàn to hơn một
chút và rất giống cây đàn Guitar cổ điển.
·
Ngoài ra, ở Việt Nam
thì quen chơi đàn thùng. Đàn thùng thì cũng tương tự như đàn cổ điển, có cái
thân rỗng và có lỗ âm thanh. Dây thì thường là sắt bao đồng, dây cứng hơn loại
nylon, và dây đàn được giữ trên mình đàn bằng sáu cái chốt nhựa hoặc kim loại,
chứ không cột lại như đàn nylon.
Guitar Ba-rốc (Baroque)
và Guitar Phục Hưng (Renaissance)
Tiền thân của Guitar hiện đại. So với Guitar cổ điển, nó nhỏ và
thanh tú hơn, và âm thanh phát ra cũng nhỏ hơn. Nó có dây đạt thành cặp như Guitar
12 dây, nhưng chỉ có 3-4 cặp, khác với Guitar 12 dây có 6 cặp ứng với đủ 12
dây. Guitar Ba-rốc được dùng để đánh đệm cũng như đánh đơn, và thường được thấy
trong các buổi biểu diễn âm nhạc vào thời kỳ sớm của lịch sử âm nhạc (500-1760
CN) (Instrucción de Música sobre la Guitarra Española của Gaspar Sanz xuất bản vào năm 1674 bao gồm rất nhiều bài Guitar đánh
đơn trong thời kỳ đó). Trong khi Guitar Ba-rốc có thân đàng phẳng thì Guitar
Phục Hưng được trang trí rất cầu kỳ với những lớp gỗ và ngà voi trang trí trên khắp thân và cổ đàn, và một paper-cutout inverted
"bánh cưới" phía trong lỗ thân đàn.
Guitar cổ điển
(Classical guitar)
Nhạc cụ này được chế tạo từ một bản thiết kế vào khoảng 150 năm
trước đây. Nó là loại đàn Guitar thùng có 6 dây (thường làm bằng nilon), âm
thanh phát ra nghe êm dịu. Nhạc cụ này có thể được dùng trong rất nhiều loại
thể loại nhạc khác nhau: từ nhạc Tây Ban Nha, folk, jazz cho tới nhạc độc tấu
và hòa tấu và thường được chơi khi nhạc công ngồi tại một vị trí cố định.
Guitar cổ điển thuộc bộ dây, âm vực rộng khoảng 3 quãng tám,
được chế tạo từ nhiều loại gỗ khác nhau, có chiều dài xấp xỉ 1 m. Nhạc cụ này
phát triển từ thời Trung cổ. Thời kỳ đầu, nó xuất hiện ở Tây Ban Nha và Ý, giai
đoạn ấy nó có hình dáng nhỏ gọn hơn loại Guitar cổ điển ngày nay.
Hiện nay, các loại Guitar cổ điển sử dụng trong dàn nhạc giao
hưởng Niibori Guitar được phân loại như sau:
·
Guitar sopranino hay Guitar
piccolo, với quãng tám và quãng năm cao hơn bình thường một chút.
·
Guitar soprano, với
quãng tám cao hơn bình thường.
·
Guitar alto, với quãng
năm cao hơn bình thường.
·
Guitar chính (Guitar
cổ điển nguyên mẫu).
·
Guitar đệm Niibori,
với quãng bốn thấp hơn bình thường. Niibori thường chỉ đơn giản gọi đó là
"Guitar đệm", mặc dù Guitar đệm của Niibori khác với các loại Guitar
đệm thông thường.
·
Đại hồ cầm, với quãng
tám thấp hơn bình thường.
Guitar 12 dây
Là loại đàn Guitar có 12 dây, nhiều gấp đôi số lượng dây của
loại ghita thùng chuẩn mực. Nói cách khác, nó là loại Guitar có 6 cặp dây dựa
theo loại Guitar thông thường: cặp dây số 1 là nốt Mi; cặp số 2 là nốt Si; cặp
số 3 là nốt Sol; cặp số 4 là nốt Rê; cặp số 5 là nốt La và cặp số 6 là nốt Mi
(thấp hơn nốt Mi của cặp dây số 1 đúng 2 quãng tám).
Guitar 12 dây thuộc bộ dây, âm vực khoảng 3 quãng tám, được chế
tạo từ gỗ, kim loại và plastic. Đầu thế kỷ 19, người ta đã gắn thêm volume để
nhạc cụ này tăng thêm cường độ âm thanh. Trong ban nhạc, nhiệm vụ của Guitar 12
dây là đệm hợp âm giữ nhịp. Nó phát ra âm thanh khá "chói tai" như
thể có 2 cây Guitar cùng được sử dụng một lúc.
Guitar Torres[sửa | sửa mã nguồn]
Nhạc cụ này là kẻ tiền nhiệm của loại ghita thùng hiện đại. Nó
có những thiết bị tăng âm nằm trong khuôn đúc hình nan quạt ở cạnh dưới của mặt
thân đàn. Những thiết bị này giúp âm thanh phát ra lớn hơn.
Ghita Torres thuộc bộ dây, âm vực rộng 3,5 quãng tám, tổng chiều
dài 81 cm. Thân đàn bằng gỗ với 6 dây ruột mèo (gut). Trước năm 1852, nghệ
nhân Tây Ban Nha Antonio de Torres Jurrado đã chế tạo ra nhạc cụ này, do đó nó
được đặt tên là Torres guitar, một loại nhạc cụ đã trở thành chuẩn mực cho loại
classical guitar hiện đại. Ghita Torres lớn hơn những loại ghita trước đấy, đặc
biệt là ở phần thân đàn. Về sau, người ta đã tái cấu trúc phần bên trong thân
đàn để âm thanh vang lớn hơn nữa.
Guitar Hawaii
Ghita Hawaii có 6 dây nhưng không có phím. Người chơi dùng một
thanh (khối) kim loại (bằng đồng, thép không rỉ...) ở tay trái chặn trên cần
đàn để tạo nên các phím. Độ dài ngắn của đoạn dây đàn bị chặn sẽ tạo ra các
nốt. Ghita Hawaii chơi rất nhiều bồi âm, có rất nhiều bồi âm vì độ dài dây đàn
có thể thay đổi được, và các bồi âm ấy du dương hơn tiếng ghita thông thường.
Tay phải để gẩy có 1 bộ 4 móng (tương tự móng của người
chơi đàn tranh) lắp vào 4 ngón: cái, trỏ, giữa, nhẫn.
Dây của ghita Hawaii là dây trơn, không có vỏ bọc cả 6 dây. 6
dây này cũng không được lên theo các nốt mi, la, rê, sol, si, mi như đàn ghita
Tây Ban Nha.
Người chơi khi diễn tấu thì đặt đàn trên đùi. (Gần giống tư thế
của những người chơi đàn tranh hoặc đàn tam thập lục).
Ở Việt Nam, nghệ sỹ chơi ghita Hawaii nổi tiếng là Đoàn Chuẩn, Từ Linh.
Guitar thép pêđan (Pedal
steel guitar)
Đây cũng là một loại với ghita Hawaii. Nhạc cụ này không có thân
đàn, nhưng lại có 2 cần đàn (mỗi cần 10 dây) được đóng khung trên một bàn phím.
Ghita thép pêđan là loại đàn có nhiều bàn đạp để chỉnh độ cao của các dây. Để
tạo ra những nốt riêng lẻ và các hợp âm, người ta khảy dây và dùng một thanh
thép hoặc một ống lướt nhẹ dọc theo chiều dài của dây.
Guitar thép pêđan có âm vực rộng 6 quãng tám, thân đàn và chân
thẳng đứng bằng gỗ hoặc kim loại. Nhạc cụ này cao 23 cm, dài từ 71 đến
91 cm. Vào khoảng năm 1830, người ta mang loại đàn này từ Mexico đến
Hawaii, thế rồi nhạc cụ này phát triển mạnh và trở thành vật đặc trưng của cư
dân đảo Hawaii từ thập niên 1940. Joseph Kekuku (nghệ sĩ Hawaii) là người đầu
tiên đã dùng một vật gì đó lướt dọc theo chiều dài của dây trong lúc khảy đàn
để tạo ra âm thanh "nhão". Sau đó, người ta mới sử dụng một thanh
thép hoặc một ống để thay thế dụng cụ này.
Một trong những kỹ thuật phổ biến khi chơi Guitar thép pêđan là
sử dụng các bàn đạp và đòn bẩy đầu gối để thay đổi độ cao thấp, tạo ra những âm
thanh luyến láy.
Ghita phím lõm
Lục huyền cầm hay Guitar Việt Nam, ghita phím lõm, Guitar vọng
cổ hoặc Guitar cải lương là cây đàn được cải biến từ đàn Guitar (guitare
espagnole moderne) do các nghệ sỹ cải lương Việt Nam sáng
tạo ra. Từ cây đàn guitar 6 dây ban đầu, người ta khoét các phím lõm xuống
chừng 1 cm, hình bán nguyệt nhằm tạo ra âm thanh khác biệt, tạo độ ngân
rung đặc trưng của ca vọng cổ.
Khi dùng chơi nhạc cổ, guitar phím lõm không dùng dây 6.
Dây đàn được lên theo âm giai ngũ cung (pentatonic).
Guitar phím lõm được chủ yếu chơi trong dàn nhạc của cải lương,
đờn ca tài tử Nam Bộ.
Guitar điện đầu vòm
Là loại đàn Guitar đầu vòm truyền thống đã được cải tiến vào
cuối thập niên 1930. Ghita điện đầu vòm thuộc bộ dây, có âm vực
rộng trên 3 quãng tám, thân đàn làm bằng gỗ với 6 dây đàn kim loại. Nhạc cụ này
rất thông dụng đối với những nhạc sĩ chơi nhạc Jazz. Trong thập niên 1940, ghita điện đầu vòm được cải tiến khá nhiều, kết hợp thêm một
cutaway, những bộ cảm ứng âm thanh và một công tắc chọn độ rung âm thanh (selector
switch). Loại đàn này phát ra tiếng êm dịu và ấm. Nếu gắn thêm những thiết
bị điện tử khác, người ta có thể chơi những nốt riêng lẻ hay tạo thành giai
điệu hoặc độc tấu.
Ghita điện đầu vòm là nhạc cụ gợi ý cho sự phát triển loại ghita
điện tử có thân đàn rắn đặc ngày nay.
Guitar điện
Guitar điện, về cấu tạo cơ bản, vẫn giống guitar cổ điển. Gồm 3
phần chính: đầu (machine head), cần (neck) và thân (body).
Điểm khác biệt chủ yếu của guitar điện nằm ở phần thân đàn.
Ghita điện có thân đàn đặc và phẳng. Vì không có thân đàn rỗng, ghita điện được
khuếch âm bằng những bộ phận cảm ứng từ (pick-up) nối với các cuộn cảm
ứng quấn quanh các lõi (bobbin) đặt chìm trong thân đàn. Mỗi cây guitar
điện có thể có từ 1 đến 3 pick-up. Trên thân đàn còn có 2 núm điều chỉnh âm
lượng và âm sắc (tone) và lỗ để cắm dây dẫn (jack) đến ampli. So
với đàn gỗ, dây đàn điện có khuynh hướng mỏng và dẻo hơn.
Ngoài ra, cần của ghita điện thường có 22-24 có thể lên đến 28
ngăn, khuynh hướng thường nhỏ dần từ đầu đàn đến thân đàn.
Ghita điện thuộc bộ dây, âm vực thấp hơn hoặc bằng 4 quãng tám.
Nó là sản phẩm tổng hợp từ gỗ, kim loại và plastic. Chiều dài của đàn từ
97 cm đến 102 cm.
Ở Mỹ, người ta đã nhiều lần thử nghiệm nhạc cụ này từ thập niên
1920 đến thập niên 1930. Ban đầu, nó là một ghita thùng gắn bộ khuếch âm ở thân
đàn. Đến đầu thập niên 1950, Paul Bigsby và
sau đó là Leo Fender đã cải tiến thành đàn ghita rắn đặc với
hình dạng như ngày nay ta thường thấy.
Ghita điện thường được diễn tấu chủ yếu theo phong cách nhạc
nhẹ. Tùy vào từng thể loại, từng dòng nhạc mà guitar điện được chế tạo theo
những nét riêng biệt một cách phù hợp nhất.
Với người chơi jazz, blues, cây Guitar có 3 pick-ups đơn (single-coiled
pick-ups) tạo ra âm sắc lạnh và "leng keng" rất được ưa chuộng.
Còn với những người chơi nhạc rock, cây Guitar có 2 pick-ups kép (humbuckle
tone) tạo nên âm sắc trầm ấm, dày dặn co tính kim loai đặc trưng luôn là
lựa chọn số 1.
Guitar điện Les Paul
Nhạc cụ này xuất hiện vào năm 1952. Người ta đã lấy tên
của Les Paul, một nhạc công Guitar nổi tiếng cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950, để đặt tên cho loại đàn này. Những
mẫu thiết kế đầu tiên của nhạc cụ này do hãng Gibson sản
xuất vào đầu thập niên 1950. Tuy nhiên, trong thời kỳ ấy, nhạc cụ này chưa được
phổ biến rộng rãi nên ít người mua, vì thế hãng Gibson tạm ngưng sản xuất vào
năm 1960. Đến giữa thập niên 1960, nhờ sự chuyển động mạnh của dòng nhạc pop
rock nên nhạc cụ này được phục hồi và trở nên chuẩn mực cho tới ngày nay.
Guitar điện Les Paul thuộc bộ dây, âm vực rộng trên 5 quãng tám,
làm từ gỗ và có 6 dây đàn bằng kim loại. Nhạc cụ này dài từ 97 đến 102 cm.
Guitar cộng hưởng (resonator, resophobic hay dobro)
Là loại đàn Guitar thùng có những đĩa nhôm hình nón gắn bên
trong thân đàn để khuếch đại âm thanh. Nhạc cụ này phát ra âm thanh đủ lớn để
nghe trong những buổi hòa nhạc trực tiếp mà không cần máy khuếch âm (ampli).
Guitar cộng hưởng và những loại đàn có gắn thiết bị khuếch âm khác như Dobros
và Naitionals xuất hiện lần đầu tiên trong thập niên 1930. Người ta sử dụng các
nhạc cụ này trong những ban nhạc khiêu vũ, nhạc Jazz và Blue.
Loại đàn này thuộc bộ dây, âm vực rộng 3 quãng tám. Thân đàn làm
bằng gỗ, plastic hoặc kim loại. Chiều dài của nhạc cụ này từ 1,02 đến 1,07 m.
Guitar đệm
Guitar đệm có nguồn gốc từ cây đàn Đại hồ cầm, chịu trách nhiệm bè trầm, nối kết giữa trống và Guitar lại với nhau tạo nên một hoà âm hoàn chỉnh.
Dựa trên hình mẫu của cây Guitar điện, người ta bắt đầu tạo ra
cây Guitar đệm gồm 4 dây (E, A, D, G) bằng kim loại, cần đàn được chia
thành các ngăn (từ 22-24 ngăn) với thùng đàn đặc và bộ phận khuếch âm. Đến năm
1967 thì cây Guitar đệm 5 dây và 6 dây cũng ra đời và, cho đến nay, đã có loại Guitar
đệm 7 dây. Tuy nhiên về cấu tạo thì hầu như không có gì thay đổi nữa. Đệm điện
cũng sử dụng nhứng đồ nghề giống như Guitar điện.
Guitar đệm có âm vực thấp hơn Guitar điện. Nhạc cụ này có hai
vai trò quan trọng trong dàn nhạc: phát ra những nốt trầm để hỗ trợ giai điệu
chính, và cùng với trống, nó giữ nhịp để giúp những nhạc cụ khác chơi đúng nhịp
điệu chung của ban nhạc.
Guitar đệm thuộc bộ dây, âm vực rộng 3 quãng tám. Nhạc cụ này có
chiều dài 1,1 m, được chế tạo bằng vật liệu tổng hợp như gỗ, kim loại và
plastic. Guitar đệm do Leo Fender thiết kế lần đầu vào năm 1951. Người ta có
thể tạo ra những âm thanh khác nhau cho từng nốt trên nhạc cụ này bằng cách sử
dụng hệ thống khuếch âm (ampli), fuzz box, hệ thống gây tiếng vọng (echo)
và nhiều loại thiết bị nhỏ khác.
Ngày nay, cây Guitar đệm 4 dây xuất hiện phổ biến ở các dòng
nhạc jazz, blues, rock và bán
cổ điển.
Guitar bass không phím
Guitar đệm không phím (fretless bass guitar) xuất hiện
từ thập niên 1970, được sử dụng rộng rãi như loại đàn đại hồ cầm truyền thống. Nhạc cụ này cho phép bạn lướt nhẹ qua các
nốt để thay đổi độ cao thấp của âm thanh. Ghita đệm không ngăn phím phát ra âm
thanh phong phú, rất thông dụng với những nhạc công chơi thể loại jazz và rock
fusion.
Đây là nhạc cụ thuộc bộ dây, âm vực khoảng 3 quãng tám, được chế
tạo từ gỗ, kim loại và plastic. Chiều dài của nó từ 1,1 đến 1,2 m.
Về cơ bản, Guitar đệm Streinberger được thiết kế khác biệt so
với bất kỳ loại guitar nào. Thân đàn thường được làm bằng plastic dày, rắn chắn
hơn gỗ của loại đàn bass truyền thống. Nó phát ra âm thanh thô cứng, rõ ràng.
Thân đàn rỗng và nhỏ, chứa những thiết bị điện tử mà ampli và bộ khuếch âm cho
phép tạo ra nhiều loại âm thanh khác nhau.
Guitar đệm Streinberger thuộc bộ dây, âm vực khoảng 3 quãng tám.
Để chế tạo nhạc cụ này, người ta sử dụng nhựa aboxit gia cố với carbon và sợi
thủy ngân (một loại than chì). Đây là những chất liệu mới nhất mà Ned Steinberger dùng để chế tạo nhạc cụ này vào đầu thập niên 1980. Theo các chuyên gia, loại than chì để làm đàn này đặc gấp 2
lần và cứng hơn 10 lần so với gỗ và lại bền và nhẹ hơn thép.